Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) cho biết, có thể sẽ cấp phép cho Viettel được thử nghiệm 4G vào tuần tới sau khi nhà mạng này có văn bản xin phép được thử nghiệm 4G.
Trả lời câu hỏi của ICTnews rằng những doanh nghiệp như FPT, CMC, VTC có xin thử nghiệm 4G hay không sau khi họ được cấp phép thử nghiệm 4G từ năm 2010 với thời hạn 1 năm. Cục Viễn thông cho biết, đến thời điểm này chỉ có Viettel, VNPT, MobiFone xin thử nghiệm 4G. Tuy nhiên, Cục Viễn thông không nhận được bất cứ đề nghị nào của FPT, CMC, VTC không xin thử nghiệm 4G.
Không phải đến bây giờ, Bộ TT&TT mới thực hiện cấp phép thử nghiệm 4G cho các nhà mạng mà từ năm 2010, Bộ TT&TT đã đồng ý cho VNPT, Viettel, FPT Telecom, CMC và VTC được thử nghiệm mạng di động 4G trong vòng 1 năm.
Cụ thể ngày 10/10/2010, VNPT đã tuyên bố hoàn thành trạm BTS theo công nghệ LTE đầu tiên đặt tại tòa nhà Internet, lô 2A, làng Quốc tế Thăng Long, Cầu Giấy, Hà Nội với tốc độ truy cập Internet có thể lên đến 60 Mbps. Giai đoạn 1 dự án thử nghiệm cung cấp dịch vụ vô tuyến băng rộng công nghệ LTE của VNPT sẽ được VDC triển khai với 15 trạm BTS tại Hà Nội, bán kính phủ sóng mỗi trạm khoảng 1km. Cùng với VNPT, Viettel đã bắt đầu thử nghiệm mạng 4G từ tháng 12/2010 với 40 trạm phát tại 2 quận Đống Đa và Ba Đình.
Tại thời điểm năm 2010, VTC cho biết, công ty này sẽ thử nghiệm LTE ở khu vực Hà Nội nhưng với quy mô “vừa đủ mức độ đánh giá”. Đồng thời, CMC nhận định việc ứng dụng 4G vào dịch vụ viễn thông sẽ góp phần cho người dùng Việt Nam thụ hưởng những dịch vụ viễn thông tiên tiến của thế giới, mang lại cơ hội kinh doanh cho các nhà khai thác mới.
Một chuyên gia viễn thông nhận định rằng khả năng để FPT, CMC, VTC nhảy vào sân chơi 4G gần như là "nhiệm vụ bất khả thi". Ông Thiều Phương Nam, Tổng giám đốc Qualcomm Đông Dương cho rằng, 4G là đi lên từ nền tảng 2G và 3G. Như vậy, khó có khả năng FPT, CMC, VTC nhảy vào sân chơi 4G để cạnh tranh được với Viettel, VNPT và MobiFone.
Theo Luật Viễn thông, các doanh nghiệp sẽ phải đấu giá tần số để lấy giấy phép 4G. Sau khi đấu giá tần số, các doanh nghiệp có thể chuyển nhượng tần số nếu muốn. Việc đấu giá tần số là nhằm tránh tình trạng xin giấy phép để “giữ chỗ”. Việc cấp phép 4G được Bộ TT&TT thực hiện trong năm 2016. Hiện chưa có thông tin chính thức từ FPT, VTC, CMC rằng liệu các doanh nghiệp này có tham gia cuộc đua 4G hay không
Mới đây, ông Đỗ Minh Phương, Phó Tổng giám đốc Viettel cho biết nhà mạng này sẽ bắt đầu triển khai thử nghiệm 4G vào tháng 10/2015. Theo ông Phương, Viettel sẽ xin phép Bộ TT&TT cho tiến hành thử nghiệm 4G có thu phí. Mạng 4G trước mắt phủ đến cấp thị xã, huyện và các tỉnh, thành phố. Đến cuối 2015 chậm nhất là quý I/2016 Viettel sẽ có 12.000 trạm 4G trên toàn quốc. Khi cung cấp dịch vụ 4G, quan điểm của Viettel là chỉ phân biệt cước thoại và dữ liệu chứ không phân biệt đâu là 3G và 4G. Như vậy, có thể hiểu giá cước 4G mà Viettel cung cấp không cao hơn 3G. Khi sử dụng 4G, khách hàng của Viettel sẽ phải đổi SIM mới có thể dùng được.
Mới đây, ông Lê Đăng Dũng, Phó Tổng giám đốc Viettel đã đưa ra kiến nghị, Bộ TT&TT xem xét cấp giấy phép cung cấp dịch vụ 4G cho Viettel ngay trong năm 2015 để Viettel có thể tự bỏ vốn đầu tư và chính thức triển khai 4G từ năm 2016. Lý do khiến Viettel đưa ra kiến nghị trên là: cùng với việc song song với thử nghiệm 4G ở Việt Nam, Viettel cũng đang thử nghiệm 4G ở Lào, Camuchia. Việt Nam đã chậm triển khai 4G so với nhiều nước ASEAN, do đó việc kéo dài thời gian thử nghiệm sẽ khiến Việt Nam càng đi chậm hơn. Vì vậy, đề nghị Bộ TT&TT cấp giấy phép 4G cho Viettel trong năm 2015 để nhà mạng này được triển khai đầu tư, được cấp băng tần luôn trong năm nay.
Một lý do khác nữa là giải quyết được bài toán lãng phí đầu tư bởi nếu triển khai 4G chậm các doanh nghiệp sẽ tiếp tục đầu tư cho 2G và 3G. Nếu có giấy phép 4G, doanh nghiệp sẽ không đầu tư thêm cho 3G nữa mà cung cấp 4G luôn, tránh lãng phí tài nguyên tần số cũng như vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Trung Kiên, Giám đốc Ban quản lý phát triển sản phẩm công nghệ VNPT Technology cho biết, tính đến thời điểm hiện tại VNPT Technology đã cho ra thị trường khoảng 600.000 sản phẩm, dự kiến đến hết năm 2015 doanh nghiệp này sẽ cho ra tiêu thụ được khoảng 900.000 sản phẩm các loại, cung cấp cho thị trường viễn thông, truyền hình, CNTT.
VNPT Technology là một trong số ít doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp CNTT đang hoạt động theo mô hình khép kín: Nghiên cứu phát triển, thiết kế sản phẩm, sản xuất trong nước và cung ứng ra thị trường.
VNPT Technology thành lập từ tháng 2/2011, công ty đã đầu tư 3 năm để nghiên cứu các sản phẩm và đến năm 2014 thì bắt đầu tung hàng loại sản phẩm ra thị trường. Hiện tại, VNPT Technology có hai dòng sản phẩm chính: Thiết bị mạng và sản phẩm cho người dùng cuối.
Ở dòng sản phẩm thiết bị mạng, VNPT Technology đang sản xuất các loại thiết bị cung ứng cho các doanh nghiệp viễn thông như: Moderm ADSL, thiết bị đầu cuối quang GPON-ONT, thiết bị Wi-Fi…
Đối với dòng sản phẩm cho người dùng cuối: VNPT Technology đang chuẩn bị cho ra mắt sản phẩm smarphone thương hiệu Việt VIVAS LOTUS thế hệ thứ 4, Set Top Box OTT thương hiệu Smart Box VNPT, thiết bị thu truyền hình IPTV, đầu thu truyền hình số mặt đất DVB-T2…
Bên cạnh đó, VNPT Technology cũng đã nghiên cứu các giải pháp công nghệ như: Quản lý và vận hành hệ thống WiFi cung cấp cho các nhà mạng, giải pháp CDN quản lý mạng lưới viễn thông, giải pháp SmartTalk cung cấp dịch vụ nhắn tin và liên lạc đa phương tiện trên nền OTT.
Bên cạnh những dòng sản phẩm đã ra thị trường, hiện tại VNPT Technology đang tiếp tục nghiên cứu các sản phẩm mới, cũng như nghiên cứu để bổ sung các tính năng, cấu hình cho những dòng sản phẩm hiện tại.
Trả lời câu hỏi tại sao VNPT Technology lại chọn hướng đầu tư phát triển các sản phẩm công nghiệp CNTT, viễn thông trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp trong nước khác đã rời bỏ cuộc chơi?
Ông Nguyễn Trung Kiên cho hay, nếu một doanh nghiệp Việt Nam đầu tư chỉ để lắp ráp các sản phẩm thì hiệu quả sẽ rất thấp, vì chi phí lắp ráp chiếm vị trí rất nhỏ trong tổng giá thành sản phẩm, chỉ dưới 2%. Do đó, nếu chỉ đầu tư một dây chuyền sản xuất, thuê nhân công lắp ráp những sản phẩm do một doanh nghiệp khác đã thiết kế sẵn thì sẽ không hiệu quả.
Theo ông Kiên, để có hiệu quả doanh nghiệp công nghệ cần phải thực hiện cả việc nghiên cứu và phát triển. Cách làm của VNPT Technology là đầu tư nghiên cứu phát triển và sản xuất, lắp ráp. Tuy nhiên, để đầu tư được bài bản như vậy không phải doanh nghiệp nào cũng làm được và cũng không phải ai cũng dám làm.
Để làm được khâu nghiên cứu phát triển, các doanh nghiệp phải có đầy đủ các yếu tố: Nguồn lực đủ đề đầu tư dài hạn, vì trong 3-4 năm đầu sẽ chưa có sản phẩm bán ra, không có lãi do đó doanh nghiệp phải có đủ nguồn lực cả về tài chính, cũng như nguồn lực về con người làm nghiên cứu.
Thêm vào đó, làm công nghiệp công nghệ cao có độ rủi ro lớn, đầu tư máy móc thiết bị rất nhiều tiền, tính bằng tiền triệu USD. Trong khi những năm đầu khi còn trong giai đoạn nghiên cứu phát triển sẽ chưa có sản phẩm, khi có sản phẩm rồi thì lại chưa có thị trường nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Để phát triển được thị trường, trong thời gian đầu rất cần phải có sự hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
“VNPT Technology đã dám làm và làm được vì đã tìm cách giải được các bài toán khó kể trên”, ông Kiên nói.
Cách đây 5 năm, trong buổi làm việc với Bộ TT&TT, Viettel khẳng định chiến lược của doanh nghiệp này là sẽ nhắm đến sản xuất công nghiệp. Phía Viettel lý giải rằng chỉ có sản xuất công nghiệp mới có thể chủ động được việc đưa các ứng dụng, dịch vụ của mình đến với khách hàng. Cũng chính tại buổi làm việc đó, lãnh đạo VNPT cho rằng khối công nghiệp đang là gánh nặng của VNPT, các sản phẩm công nghiệp rất khó cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập.
Đã có thời kỳ cụm công nghiệp của VNPT tại Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội trở thành điểm sáng với các nhà máy sản xuất cáp, thiết bị viễn thông. Đầu năm 2013, Bộ TT&TT tổ chức đi thực tế các đơn vị của VNPT trong đó có Công ty Cổ phần Vật liệu Xây dựng Bưu điện (trụ sở tại Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội) để chuẩn bị cho việc tái cơ cấu VNPT. Thời điểm đó, nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của VNPT tại Yên Viên - Gia Lâm đã ở tình trạng “cửa đóng then cài”. Nhiều nhà xưởng được khóa kỹ bằng dây xích bị hoen gỉ, nhiều bảng hiệu của công ty đổ xiêu vẹo. Ngay chính lãnh đạo Công ty Cổ phần Vật liệu Xây dựng Bưu điện cũng báo cáo tình hình rất khó khăn vì khó cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường.
Tuy nhiên, sau khi tiến hành tái cơ cấu, lãnh đạo VNPT khẳng định, sức cạnh tranh của VNPT không thể thiếu khối công nghiệp. Đây sẽ là một trụ cột trong chiến lược phát triển của VNPT. Ông Trần Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng thành viên của VNPT cho biết, đã có thời kỳ khối công nghiệp của VNPT phát triển mạnh, nhưng lúc đó VNPT “một mình một chợ” và thực hiện cơ chế bao tiêu sản phẩm. Chính vì cơ chế đó đã khiến cho khối công nghiệp gặp khó khăn khi VNPT bị cạnh tranh mạnh bởi các đối thủ mới và không còn bao tiêu sản phẩm cho khối công nghiệp. Thậm chí, có giai đoạn người ta coi khối công nghiệp là gánh nặng của VNPT.
Thế nhưng, sau khi tiến hành tái cơ cấu, VNPT đã đưa khối công nghiệp của mình sang một trang phát triển mới. “Năm 2014, không ai tin VNPT có thể tự sản xuất được 100% thiết bị đầu cuối trên mạng của mình nhưng bây giờ VNPT đã sản xuất được set top box, modem quang, modem Wi-Fi, smartphone. Trước 2014, khối công nghiệp của VNPT là tờ giấy trắng song chúng tôi đã quyết tâm xây dựng khối công nghiệp, phát huy những tiềm năng vốn có và đến nay, VNPT tự tin khẳng định là sản xuất được 100% thiết bị đầu cuối. VNPT đang đưa vào sử dụng trên mạng lưới của mình 500.000 modem ADSL, 100.000 modem cáp quang. Hiện VNPT không nhập khẩu các thiết bị đầu cuối để triển khai trên mạng lưới mà sẽ sử dụng các thiết bị tự sản xuất. Nếu trước kia thiết bị đầu cuối phải nhập ngoại thì hiện nay khối công nghiệp của VNPT đã chủ động 100% thiết bị đầu cuối trên mạng của VNPT”, ông Trần Mạnh Hùng chia sẻ.
Ông Trần Mạnh Hùng cho biết, ngoài việc cung cấp cho nhu cầu của mình, các sản phẩm của VNPT sẽ được bán rộng rãi ra ngoài thị trường và cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp khác. Thậm chí, nếu sản phẩm công nghiệp của VNPT tốt sẽ tính đến chuyện xuất khẩu ra nước ngoài.
“Bây giờ chúng tôi xác định rằng, khối công nghiệp là sức mạnh cạnh tranh của VNPT. Sở dĩ như vậy vì công nghệ bây giờ rất uyển chuyển, các nhà sản xuất chip rất cần những người gắn liền công nghệ với mạng lưới. Khối công nghiệp của VNPT có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển, vì không phải tập đoàn viễn thông nào cũng làm công nghiệp, nhưng VNPT làm với lợi thế hạ tầng sẵn có và làm chủ được công nghệ. Chỉ khi mình hoàn toàn chủ động và làm chủ công nghệ mới có thể đưa các ứng dụng, dịch vụ của mình trên các thiết bị đầu cuối một cách linh hoạt. Nếu mua các thiết bị đầu cuối thì không thay đổi dịch vụ được vì nhà cung cấp thiết bị này sản xuất để cung cấp theo hình thức đóng gói”, ông Trần Mạnh Hùng nói.
Ông Nguyễn Trung Kiên, Giám đốc Ban quản lý phát triển sản phẩm công nghệ VNPT Technology cho biết, tính đến thời điểm hiện tại VNPT Technology đã cho ra thị trường khoảng 600.000 sản phẩm, dự kiến đến hết năm 2015 doanh nghiệp này tiêu thụ khoảng 900.000 sản phẩm các loại, cung cấp cho thị trường viễn thông, truyền hình, CNTT.
VNPT Technology là một trong số ít doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp CNTT đang hoạt động theo mô hình khép kín: Nghiên cứu phát triển, thiết kế sản phẩm, sản xuất trong nước và cung ứng ra thị trường.
Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng các thiết bị di động (điện thoại thông minh, máy tính bảng) và người dùng Internet thuộc hàng cao nhất trong khu vực cũng như trên thế giới. Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ tập trung chủ yếu khai thác thiết bị di động dưới góc độ là một phương tiện giúp tìm kiếm tin tức, trao đổi tương tác hay vui chơi giải trí. Trong khi còn rất nhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống như kinh doanh buôn bán, giao thông, giáo dục, y tế, hành chính công ... thì chưa tận dụng triệt để lợi thế do các thiết bị di động đem lại.
Vì vậy, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (VECITA), Bộ Công Thương đặt mục tiêu phối hợp cùng với nhiều đối tác, trong đó có Tập đoàn Intel và Tổng công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT-VinaPhone), nhằm thúc đẩy việc sử dụng thiết bị di động hay thiết bị thông minh trong các hoạt động thương mại, dịch vụ tại Việt Nam. Intel là tập đoàn số một trên thế giới về bộ vi xử lý, là đối tác thích hợp nhằm chứng thực (Intel inside) cho các thiết bị thông minh có đủ điều kiện cần thiết để vận hành, xử lý thông tin, đặc biệt áp dụng vào trong môi trường doanh nghiệp. VNPT-VinaPhone là Tổng Công ty có những giải pháp về hạ tầng viễn thông, CNTT và truyền thông rất phù hợp cho việc phát triển các giải pháp hỗ trợ kinh doanh trên nền tảng di động.
Các thiết bị thông minh sẽ không thể phát huy được vai trò nếu thiếu đi những giải pháp, phần mềm hay ứng dụng chạy trên đó để giải quyết các bài toán cụ thể trong quản lý, kinh doanh. Chính vì vậy, Alepo không chỉ nhắm tới việc đưa thiết bị phần cứng vào cuộc sống mà còn quy tụ nhiều đối tác lớn khác để đưa ra thị trường một hệ sinh thái bao gồm phần cứng - phần mềm - giải pháp nhằm hỗ trợ cho nhiều đối tượng khác nhau tiếp cận với hệ sinh thái này với chi phí hợp lý nhất.
Xuất phát điểm của hệ sinh thái này sẽ đi từ cốt lõi là một giải pháp quản lý bán hàng thông minh (Alepo). Sau đó, VECITA, Intel và VNPT - VinaPhone cũng như các đối tác khác sẽ lan tỏa nhằm tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT, TMĐT như một công cụ đắc lực giúp giải quyết các bài toán thực tế trong sản xuất và kinh doanh.
Một trong những đối tượng chính sẽ thụ hưởng kết quả của chương trình hợp tác này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể và các cửa hàng phân phối bán lẻ. VECITA sẽ bắt tay ngay triển khai chương trình này trong tháng 10 năm nay và dự kiến sẽ kéo dài ít nhất đến hết năm 2020. Lễ ra mắt chính thức Giải pháp Alepo sẽ được tổ chức vào sáng ngày 21 tháng 10 năm 2015 tại Khách sạn Meliá Hà Nội.
